WHAT'S NEW?
Loading...
**** SỰ TÍCH ĐỒNG 5 YÊN NHẬT MAY MẮN ***
Các bạn có thấy em Totoro xanh đang có rất nhiều đồng 5 yen không ? Em ấy chuẩn bị gửi về Việt Nam để làm tiền lì xì cho các bạn đó !!!! Ai thích được nhận đồng 5 yen thì Like hình một cái cho có không khí trước nhé !!!
Một cách thú vị để có được một cái nhìn về lịch sử và văn hóa của một quốc gia khác là nhìn vào các đồng tiền được sử dụng tại đó. Mỗi quốc gia có một đơn vị tiền tệ khác nhau với họa tiết chạm khắc vô cùng độc đáo, bài viết sau đây mình sẽ chia sẻ câu chuyện xung quanh đồng tiền 5 yên may mắn của Nhật Bản:
1. Ý nghĩa của đồng 5 yên Nhật :
Đồng 5 yên được làm từ đồng thau và kẽm, có đường kính 22 mm, dày 1,5 mm, nặng 3,75 gram và có một lỗ ở giữa rộng 5 mm, thiết kế này lần đầu tiên được đúc vào năm 1959. Mặt trước của đồng 5 yên là một cành lúa nước và chữ "5 ¥" viết bằng chữ Kanji (chữ Hán của Nhật); Mặt sau được in chữ "Nhật Bản" và năm phát hành, cũng bằng chữ Kanji, cách nhau bởi một mầm cây. Các bạn có biết rằng trên thế giới chỉ có đồng tiền Nhật Bản là không dùng chữ cái La Tinh trên cả 2 mặt.
Bạn có thể nhận ra ở mặt trước của đồng tiền là các yếu tố kinh tế đầu ngành của Nhật Bản: cành lúa đại diện cho lâm nghiệp, thủy sản và nông nghiệp, bánh răng xung quanh các lỗ đại diện cho công nghiệp. Về phía đuôi cũng là một cặp mầm mà được cho là tượng trưng cho sự tăng trưởng của Nhật Bản thành một quốc gia dân chủ.
2. **** Tại sao đồng 5 Yên là đồng tiền may mắn?
Sự "kỳ diệu" của đồng 5 yên thực sự nằm ở cách phát âm của nó. Đồng 5 yên trong tiếng Nhật đọc là “go-en”(五 円) nghĩa là “kết nối tốt” ("en" nghĩa là kết nối nhân quả hay mối quan hệ, và "go" thể hiện sự kính trọng). Đối với lỗ tròn trên đồng tiền, mọi người tin rằng nó có ngụ ý "một cái nhìn thông suốt về tương lai".
Theo đó, mọi người thường dâng đồng tiền tại đền thờ Shinto với ý định thiết lập một mối liên kết tốt với các vị thần hay mong muốn sẽ gặp gỡ những người mới có thể mang lại may, kinh doanh, tình bạn hay tình yêu. Theo một số truyền thuyết, người nhận lương tháng đầu tiên nếu bỏ đồng 5 yên vào ví sẽ không phải suy nghĩ về chuyện tiền bạc. Để làm quà tặng, nếu bạn đặt một đồng xu 5 ¥ bên trong một chiếc ví để tặng người khác, nó để thể hiện sự quan tâm của bạn đến người nhận.
3. Sự kiện xung quanh đồng tiền 5 yên
Các bạn có biết chất liệu đặc biệt của đồng 5 yên cùng với sự lưu thông rộng rãi của nó cũng có thể đóng góp vào việc nghiên cứu khoa học không?
Vào tháng 9 năm 1999 sau vụ tai nạn hạt nhân ở Tokaimura, Ibaraki các nhà vật lý học thấy rằng đồng xu 5 yen có thể được sử dụng để ước lượng nồng độ neutron bị phát tán xung quanh bằng cách đo tỷ lệ đồng vị kẽm của nó. Để ghi lại liều lượng của neutron, các đồng tiền bị nhiễm xạ đã được thu thập từ các nhà dân ở khoảng cách 100-550m từ cơ sở. Kết quả của họ chỉ ra rằng những người di tản đến 350 mét bên ngoài các khu vực chiếu xạ vẫn bịbị phát tán một lượng neutron đáng kể.

Tiền xu Đông Dương  


Từ thế kỷ 17 (thời Trịnh – Nguyễn Phân tranh) các thương thuyền của Châu Âu đã đến Việt Nam. Việc buôn bán diễn ra khá tấp nập và bắt đầu xuất hiện những đồng tiền ngoại thương đầu tiên tại Việt Nam để phục vụ cho việc trao đổi. Một số nước lớn đã phát hiện ra nguồn tài nguyên vô cùng phong phú và có dã tâm xâm chiếm hòng vơ vét của cải. Pháp đã làm điều đó, năm 1859 Pháp chiếm Sài Gòn, ngân hàng Đông Dương ra đời và người Pháp dần thay thế các đồng tiền thương mại bằng đồng xu Đông Dương tại Nam Kỳ (Cochinchine), Trung Kỳ (Annam), Bắc Kỳ (Tonkin), Cao Miên và Ai Lao.
ĐỒNG TIỀN THUỘC ĐỊA XỨ NAM KỲ (COCHINCHINE)
Năm 1875, Pháp mang đồng 1 centieme từ “mẫu quốc” sang sở đúc tiền Ba Son để đục lỗ gọi là đồng sapèque, với hy vọng thay thế đồng xu kẽm ở xứ ta. Nhưng vì hối suất không rõ ràng và không lợi nên không được dân ta ưa dùng.
Năm 1879, Pháp đúc một loại tiền mới tiêu dùng tại Nam Kỳ, trên mặt của đồng tiền có dòng chữ Cochinchine Francaise, gồm có:
– Đồng 10 cents, 20 cents, 50 cents bằng bạc có hình tượng nữ thần tự do ngồi – biểu tượng cho nền cộng hòa của Pháp.
– Đồng 1 centieme bằng đồng đỏ (Bronze) có hình chữ nhật ở giữa, bên trong hình chữ nhật có dòng chữ viết bằng tiếng Hán: “Bách phân chi nhất”. Dân gian vẫn gọi là đồng “lá bài”.
– Đồng sapèque được đúc lại theo mẫu mới, kích thước to hơn đồng 1 centieme đục lỗ vuông, trên mặt tiền có dòng chữ Hán “Đại Pháp quốc chi An Nam” . Đồng này có giá trị bằng 1/5cent
– Năm 1885, lần đầu tiên Pháp cho đúc đồng 1 piastre với độ bạc ròng 0.9000, trọng lượng 27.2156 Gram, với kiểu mẫu tượng nữ thần tự do ngồi (1piastre = 100 cent).
ĐỒNG TIỀN BẢO HỘ XỨ BẮC KỲ (TONKIN)
Nhằm thay thế những đồng tiền kẽm, năm 1905 Pháp đúc một mẫu sapèque khác ở xứ bảo hộ Bắc Kỳ, trên một mặt xu đúc dòng chữ PROTECTORAT DU TONKIN và mặt còn lại ghi chữ Hán LỤC BÁCH PHÂN NHẤT CHI THÔNG BẢO. Đồng xu này có giá trị bằng 1/600 của 1 piastre. Tuy nhiên cũng như ở Nam Kỳ đồng xu này cũng không được hưởng ứng.
TIỀN XU ĐÔNG DƯƠNG (INDOCHINE)
Cuối năm 1885, trên tất cả các đồng xu đều thay dòng chữ Cochinchine bằng Indochine để sử dụng trên toàn Đông Dương (Tonkin, Annam, Cochinchine, Cao Miên, Ai Lao). Từ sau năm 1903, đồng sapèque không được đúc nữa. Từ sau thế chiến thứ nhất, đồng tiền Đông Dương ngày càng mất giá, độ bạc và trọng lượng của các đồng xu được giảm dần. Đồng bạc đầu tiên có độ bạc ròng là 0.9000 sau đó giảm xuống 0.8350 và 0.6800 (cá biệt năm 1920, đồng 20 cents chỉ có độ bạc là 0.4000). Một số kiểu mẫu mới được đúc thay thế:
– Năm 1896, đồng 1 cent bằng đồng đỏ, hình biểu tượng Pháp với chữ “Bách phân chi nhất”, đục lỗ tròn.
– Năm 1923 (đến 1938), đồng 5 cents bằng kền – đồng (Nikel – Ae), hình biểu tượng Phấp đội cành ô liu, đục lỗ tròn.
– Năm 1931, đồng 1 piastre (độ bạc 0.9000) với biểu tượng Pháp đội cành ô liu, kiểu mẫu này chỉ được đúc vào năm 1931.
– Năm 1935 (đến 1940), đồng 1/2 cent bằng đồng đỏ
TIỀN ĐÔNG DƯƠNG THỜI NHẬT BẢN CHIẾM ĐÓNG
Chiến tranh thế giới thứ 2 xảy ra, Pháp bị phát xít Nhật chiếm đóng vào tháng 6 năm 1940. Việc này đã làm xáo trộn mọi thứ tại Đông Dương, trong đó có kinh tế. Bị cô lập, gián đoạn giao thương với Pháp và chịu áp lực mọi mặt từ phía Nhật, chính quyền Đông Dương buộc phải có nhiều sự điều chỉnh. Sự điều chỉnh đồng tiền cũng là một sự đánh dấu cho thời kỳ mới. Những đồng tiền được đúc vào thời kỳ này gồm:
– Đồng 10 cents (1939 – 1940) và 20 cents (1939 – 1941) bằng đông – kền, hình biểu tượng Pháp cầm bông lúa và mặt sau có hình bó lúa.
– Đồng 1 cent (1940 – 1941) bằng kẽm có hình mũ Phrygian (xu Vichy)
– Đồng 1 cent (1943) và 5 cents (1943) bằng nhôm, có dập chữ ETAT FRANCAIS trên mặt xu.
– Đồng 1/4 cent (1942 – 1944) bằng kẽm có chữ ETAT FRANCAIS trên mặt xu
TIỀN ĐÔNG DƯƠNG SAU THẾ CHIẾN THỨ II
Thế chiến thứ 2 chấm dứt với phần thắng thuộc về phe đồng minh, quân phát xít thua trận. Pháp theo chân quân đồng minh vào Đông Dương giải giáp quân Nhật. Cuộc kháng chiến chống Pháp của cách mạng Việt Nam nổ ra. Cao trào đấu tranh giành độc lập cho dân tộc Việt Nam bùng nổ mạnh mẽ. Đương nhiên việc này có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế mà chính phủ Pháp tại Đông Dương đang điều hành. Pháp buộc phải phát hành một loại tiền mới vào năm 1945 với kim loại rẻ tiền hơn. Đồng Đông Dương càng mất giá.
– Đồng 5 cents (1946),10 cents (1945) và 20 cents ((1945) được đúc bằng nhôm, có hình bó lúa giống như năm 1939
– Đồng 50 cents (1946) và đồng 1 piastre (1946 – 1947) không còn được đúc bằng bạc nữa mà thay vào đó là bằng đồng – kền, có hình bó lúa.

ĐỒNG TIỀN LIÊN HIỆP PHÁP
Sau chiến tranh thế giới thứ II, nền kinh tế Pháp càng “xuống dốc” mà tình hình Đông Dương thì vẫn căng như dây đàn. Pháp buộc phải chọn giải Pháp cho Đông Dương là thỏa hiệp hơn là đối đầu trực tiếp. Liên tiếp một số hiệp định được ra đời, theo đó Pháp công nhận nền độc lập thống nhất của Việt Nam, đổi lại Việt Nam phải gia nhập khối Liên hiệp Pháp. Cũng vì việc này mà đồng tiền tiếp tục có sự thay đổi.
Năm 1953, Viện Phát hành (Institut d’Esmision des États du Cambodge, du Laos, et du Vietnam) tiến hành đúc 3 đồng xu mới bằng nhôm loại 10 su, 20 su và 50 xu. Trên một mặt xu in hình 3 cô gái đại diện cho 3 miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam và có dòng chữ QUỐC GIA VIỆT NAM. Những đồng tiền này được dùng cho đến khi Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ (1954) và vẫn còn được lưu hành đến năm 1960, vài năm sau khi nền đệ nhất cộng hòa ở miền Nam Việt Nam được thành lập.

tiền Việt Nam - tiền Đông Dương (1810-1954) - Shoptien.vn

1810 - đồng bạc Hispan
(một trong những đồng tiền phương Tây đầu tiên lưu hành ở Đông Dương)

1862 - đồng bạc Mexicana: 1 peso
(một mặt hình con ó biển cổ cong, một mặt hình đốm lửa)

Ngày 10/4/1862, sau khi mới chiếm được Nam Kỳ, Thiếu tướng Bonard (Tổng chỉ huy liên quân Pháp - Tây Ban Nha) đã ký quyết định xác định tính hợp pháp cho lưu hành đồng bạc Mexicana (Mễ Tây Cơ - Mê Hi Cô), mà dân gian thường gọi là “đồng bạc con cò”. Đến năm 1864, để biểu hiện chủ quyền của mình, Pháp định cho lưu hành đồng 5 Franc của Pháp thay thế đồng Mexicana nhưng thất bại, bởi đồng bạc này đã quá thông dụng; và trong quá trình lưu hành, nếu chỉ dùng số tiền nhỏ, dân gian đành phải chặt đồng bạc thành 4 hoặc thành 5 phần nhỏ để tính như bạc lẻ (hay còn gọi là bạc cắt, sau này qui đổi thành hào) mà vẫn được tín dụng. Trước tình hình đó, áp dụng đạo luật ngày 24/6/1875 của Quốc hội Pháp quy định về sự phát triển của hệ thống ngân hàng thuộc địa, ngày 21/01/1875, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập Banque de l’Indochine (Ngân hàng Đông Dương -  chữ Hán viết là Đông Dương Hối lý Ngân hàng), trụ sở đặt tại Paris với số vốn ban đầu là 8 triệu franc. Banque de l’Indochine có các chi nhánh ở Hải Phòng (1885), Hà Nội (1887), Nouméa (1888), Phnompenh và Đà Nẵng (1891), Trung Quốc (1894), Bangkok (1896), Papeet và Singapore (1904), Djibouti (1907)...

1875 - giấy bạc: 1 piastre

1875 - giấy bạc: 20 piastres

1885 - đồng bạc: 1 cent

1885 - đồng bạc: 1 piastre

1896 - đồng bạc: 1 cent

1899 - đồng bạc: 20 cent

1907 - giấy bạc: 100 piastres

1910 - đồng bạc: 10 cent

1913 - giấy bạc: 5 piastre

1913 - giấy bạc: 20 piastre

1919 - giấy bạc: 10 cent

1919 - giấy bạc: 20 cent

1919 - giấy bạc: 50 cent

1919 - giấy bạc: 100 cent


1921 - giấy bạc: 1 piastres

1921 - giấy bạc: 5 piastres

1923 - đồng bạc: 5 cent

1925 - giấy bạc: 100 cent

1928 - giấy bạc: 20 piastres

1931 - đồng bạc: 1 piastre

1932 - giấy bạc: 5 piastres

1935 - đồng bạc: 0.5 cent

1936 - giấy bạc: 1 piastre

1936 - giấy bạc: 20 piastres

1938 - giấy bạc: 100 yen

1939 - giấy bạc: 10 cent

1939 - giấy bạc: 20 cent

1939 - giấy bạc: 50 cent

1939 - giấy bạc: 500 cent

1940 - đồng bạc: 1 cent

1940 - giấy bạc: 1 yen

1940 - giấy bạc: 10 yen

1940 - giấy bạc: 50 yen

1942 - đồng bạc: 0.25 cent

1942 - giấy bạc: 50 cents

1942 - giấy bạc: 5 piastres

1942 - giấy bạc: 10 cents

1942 - giấy bạc: 20 cents

1942 - giấy bạc: 1 piastre

1942 - giấy bạc: 20 piastres

1942 - giấy bạc: 100 cents

1943 - đồng bạc: 1 cent và 5 cent

1945 - giấy bạc: 1 piastre

1945 - đồng bạc: 5 cent

1945 - đồng bạc: 10 cent

1945 - đồng bạc: 20 cent

1945 - giấy bạc: 50 piastres

1945 - giấy bạc: 100 piastres

1945 - giấy bạc: 500 piastres

1946 - đồng bạc: 50 cent

1946 - giấy bạc: 100 piastres

1947 - đồng bạc: 1 piastre

1947 - giấy bạc: 10 piastres

1947 - giấy bạc: 100 piastres

1949 - giấy bạc: 1 piastre

1949 - giấy bạc: 1 piastre

1949 - giấy bạc: 20 piastres

1951 - giấy bạc: 5 piastres

1953 - giấy bạc: 1 piastre

1953 - giấy bạc: 5 piastres

1953 - giấy bạc: 10 piastres

1953 - giấy bạc: 200 piastres

1954 - giấy bạc: 1 piastre

1954 - giấy bạc: 100 piastres